Một bạn nhỏ giao tiếp tiếng Anh cực kì lưu loát nhưng lại hay mắc lỗi ngữ pháp lúc viết, và một bạn nhỏ 10 điểm ngữ pháp nhưng không nói được. Theo bạn, đâu mới là đứa trẻ thiên tài?
Trong bài học thứ bảy của khóa học Nhập môn Tâm lý học mà mình học tuần trước, mình hiểu thêm về một concept hoàn toàn mới với mình: Trí thông minh lỏng (fluid intelligence) và trí thông minh kết tinh (crystallized intelligence).
Nhà tâm lý học Raymond Cattell cho rằng trí thông minh có tồn tại và bao gồm 2 loại: Trí thông minh lỏng (fluid intelligence), hay còn được kí hiệu là gf và trí thông minh kết tinh (crystallized intelligence), được kí hiệu là gc. Đây là hai loại trí thông minh giúp con người có khả năng vận hành cuộc sống hàng ngày một cách hiệu quả hơn. Về mặt định nghĩa, trí thông minh lỏng là khả năng nhận thức các mối quan hệ, giải quyết các vấn đề lạ và tiếp thu kiến thức mới. Trí thông minh lỏng được chứng minh rằng sẽ giảm dần theo thời gian. Điều đó có nghĩa là những kĩ năng con người có được liên quan đến loại trí thông minh này cũng hao mòn theo thời gian. Mặt khác, trí thông minh kết tinh bao gồm tất cả những kiến thức hình thành từ quá trình học tập và tích lũy kinh nghiệm sống. Trái ngược với trí thông minh lỏng, trí thông minh kết tinh tăng dần theo năm tháng cuộc đời. Giáo viên giảng dạy bài học này có nói một câu mà mình rất tâm đắc, nội dung đại khái là thầy không thích cách mà một số bạn dịch thuật đưa những định nghĩa này đi quá xa để nghe cho “hay” hơn. Vì với thầy, khi gọi tên trí thông minh lỏng và trí thông minh kết tinh như thế, người ta đều có hàm ý và diễn tả một cách chính xác về hai loại trí thông minh này. Hình dung một cách đơn giản, những gì là lỏng thì có thể mất mát và hao hụt nếu như không bồi đắp thêm. Còn những gì kết tinh thì theo thời gian đều rất vững chắc chẳng hạn. Tóm lại, hai loại trí thông minh có vẻ trái ngược nhau này trong thực tế lại liên kết vô cùng chặt chẽ để hỗ trợ cho con người. Trí thông minh lỏng giúp chúng ta học kiến thức mới và trí thông minh kết tinh là thành quả của học tập, giúp truy xuất kiến thức khi cần thiết.
Vậy làm thế nào để cải thiện hai loại trí thông minh này?
Trước hết, vì hai loại trí thông minh này khác nhau về bản chất nên cách cải thiện hai loại trí thông minh này cũng khác nhau. Trí thông minh lỏng thường được cải thiện khi con người thử thách bản thân, đặt bản thân vào những trường hợp cần tư duy và sự sáng tạo. Trong khi đó, trí thông minh kết tinh thường được cải thiện khi con người học tập lâu dài và tích lũy kiến thức một cách hệ thống. Đó là lý do vì sao chúng ta thường được khuyên nên học thêm kĩ năng mới như môn học mới, ngoại ngữ mới,…hay đơn giản là đọc sách để tăng sự khôn ngoan.
Đứng từ góc độ giáo dục ngoại ngữ, hai loại trí thông minh này có ý nghĩa gì?
Hai loại trí thông minh này cho mình một góc nhìn rộng hơn về việc đánh giá học trò của mình là có thông minh hay không. Và mình nhận ra trước đây mình đánh giá hơi thiển cận cũng như hay vô tình “dán nhãn” học sinh. Một học sinh sử dụng ngoại ngữ rất tốt chưa chắc đã thông minh hơn một học sinh có thể nói ngoại ngữ kém hơn nhưng tư duy ngôn ngữ lại cực kì nhạy bén. Là giáo viên, mình nghĩ là mình không có đủ bối cảnh để phán xét điều này vì mình dường như chỉ toàn nhìn bề nổi. Tuy nhiên mình có thể dựa vào kiến thức này để hiểu rằng mình có thể điều chỉnh cách mình giảng dạy. Bên cạnh việc tạo ra môi trường để phát triển trí thông minh kết tinh như các kiến thức cần thiết để sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác (từ vựng, ngữ pháp,…), mình cũng nên chú trọng vào việc giúp cho học sinh phát triển khả năng suy luận ngữ nghĩa bằng những hoạt động cải thiện trí thông minh lỏng. Hai trí thông minh nên được rèn luyện một cách cân bằng để giúp học sinh phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ tốt nhất.
Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa trí thông minh lỏng và trí thông minh kết tinh có thể được nhìn thấy rõ qua việc cân bằng giảng dạy giữa sự trôi chảy (fluency) và độ chính xác (accuracy). Fluency đòi hỏi khả năng xử lý ngôn ngữ trong thời gian thực, do đó gắn chặt với trí thông minh lỏng, trong khi accuracy phụ thuộc vào việc truy xuất kiến thức ngôn ngữ đã tích lũy, tức là trí thông minh kết tinh. Bên cạnh đó, chúng ta còn có thể liên hệ thêm về việc hiểu và sử dụng nghĩa (semantics) nằm ở điểm giao giữa hai loại trí thông minh này, khi người học vừa phải suy luận ý nghĩa trong ngữ cảnh mới, vừa dần hệ thống hóa và lưu trữ tri thức ngôn ngữ một cách ổn định.
Bài học tuần trước thật sự đã giúp mình nhận ra việc dán nhãn học sinh là thông minh dựa trên việc nhận xét về độ trôi chảy khi các em nói hay độ chính xác khi các em làm bài chưa bao giờ là việc mà giáo viên nên làm. Ngược lại, mình nên tập trung vào việc thiết kế ra những hoạt động có thể giúp môi trường học tập cân bằng hơn để giúp học sinh của mình phát triển một cách toàn diện hơn.
